Ông Dunai Péter (năm nay 79 tuổi) một tên tuổi lớn của nền báo chí Hungary, từng là PV thường trú của Hãng Thông tấn Hungary MTI và nhật báo chính luận lớn nhất của nước này "Tự do Nhân dân" (Népszabadság) tại Việt Nam thời kỳ 1981-1984, ngoài ra ông còn làm PV thường trú ở nhiều nơi khác, trong số đó có Moscow, Bắc Kinh, Berlin và vài chục nước trên thế giới như ở Mỹ, Cận Đông…
Ông đã gắn bó, yêu mến và coi Việt Nam là quê hương thứ hai của ông.
Xin trân trọng cám ơn Dunai Péter về những tình cảm ông dành cho đất nước và con người Việt Nam chúng ta, kính chúc ông và gia đình một năm mới Âu – Á nhiều sức khỏe, an vui !
Hiệp Hội xin trân trọng giới thiệu với quý bà con bài viết của ông Dunai Péter qua phần chuyển ngữ của người bạn rất gần gũi với ông: Tổng biên tập báo NHỊP CẦU THẾ GIỚI Nguyễn Hoàng Linh:
Việt Nam là tương lai: NHỮNG SUY NGHĨ NHÂN NGÀY TẾT ẤT TỴ
"Tiến Quân Ca", Quốc ca Việt Nam là một khúc ca hùng tráng với giai điệu trang nghiêm, mạnh mẽ, lời ca kiên cường, thể hiện tinh thần độc lập, ái quốc và sức mạnh đầy tự tin. Đây chính là bài ca mà nhiều người bạn Việt của tôi đã hát vào ngày 27/1/2025 tại Trung tâm Hội nghị Lurdy Ház, Budapest, nơi diễn ra sự kiện đón Tết cổ truyền với sự tham gia của gần hai nghìn người.
Bầu không khí lễ hội tràn ngập khắp hội trường và khu vực tiền sảnh được bố trí những chiếc bàn dài. Xung quanh, các thiếu nữ trong trang phục lễ hội bày bán các món ăn, đặc biệt là bánh chưng – món ăn truyền thống ngày Tết được làm từ gạo nếp, nhân thịt lợn ướp gia vị. Tất cả các đồ ăn, từ những món đơn giản đến những đĩa hải sản đắt giá nhất, đều vô cùng thơm ngon. Tôi được biết rằng một phần doanh thu từ việc bán đồ ăn và quà lưu niệm sẽ được dùng cho các hoạt động từ thiện, giúp đỡ đồng bào Việt Nam cũng như người Hung đang gặp khó khăn trong cuộc sống.
Tại đây, tôi có dịp trò chuyện cùng đồng nghiệp cũ, ông Bakos Ferenc, một dịch giả xuất sắc, am hiểu tiếng Việt ở trình độ bậc thầy, người mà tôi đã quen biết từ ít nhất nửa thế kỷ nay từ giai đoạn còn ở Việt Nam. Ông đang ký tặng các bản dịch ra tiếng Hung tác phẩm của hai nhà văn nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam (*). Bakos Ferenc được mọi người rất kính trọng, và xung quanh ông luôn có đông đảo bạn bè Việt – Hung trò chuyện, trao đổi.
Lúc này, chương trình đã bắt đầu trong khán phòng lớn được trang hoàng lộng lẫy, với sức chứa 6-700 khán giả. Một nhân vật quan trọng đang tất bật để đảm bảo mọi thứ diễn ra suôn sẻ: TS. Phùng Kim San, Trưởng ban Tổ chức sự kiện, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Người Việt Nam tại Hungary, tổ chức quy tụ hàng chục ngàn thành viên. Bạn tôi, nhà báo kiêm TBT Nguyễn Hoàng Linh cũng hỗ trợ cho công việc tổ chức: Linh nói tiếng Hung rất giỏi và còn đảm nhận việc chuẩn bị cho các học viên người Việt tham gia kỳ thi Quốc tịch Hungary.
Tân đại sứ Việt Nam tại Hungary, ông Bùi Lê Thái, đã có bài phát biểu chào mừng, được cử tọa đón nhận bằng những tràng pháo tay lớn.
Hành trình gắn bó và yêu mến Việt Nam
Xin chia sẻ với mọi người tôi đã "phải lòng" Việt Nam như thế nào, và tại sao mảnh đất này lại trở thành quê hương thứ hai của tôi. Trước hết, Hà Nội là nơi tôi nhận nhiệm vụ PV thường trú nước ngoài đáng kể đầu tiên trong đời. Lúc đó, tôi đã ngoài 30 tuổi từ lâu, từng có hơn 10 năm làm việc "trực chiến" kiểu "culi" tại mục Tin Quốc tế của tờ báo đảng, cơ quan trung ương mang tên "Tự do Nhân dân" (Népszabadság). Khi ấy, tôi nhận được đề nghị sang Việt Nam công tác và tôi được yêu cầu phải ở lại Việt Nam trong 3 năm.
Các đồng nghiệp trước đây của tôi chỉ ở 1 năm, tôi là người đầu tiên được cử sang Việt Nam với thời hạn 3 năm. Tôi không hối tiếc về quyết định đó, mặc dù công việc không hề dễ dàng. Nhưng tôi còn trẻ, tràn đầy năng lượng, và nhiều khi tôi đã cảm thấy ngượng khi chứng kiến người dân Việt Nam trong hoàn cảnh rất khó khăn, tôi thì có đủ mọi thứ mà họ không có. Thời ấy, vào đầu những năm 1980, thực phẩm và thuốc men đều khan hiếm ở Việt Nam, người dân gầy gò vì thiếu dinh dưỡng sau chiến tranh.
Hôm nay, thật vui khi nhìn thấy người Việt được ăn uống đầy đủ, trẻ em khỏe mạnh – nhưng để có được điều đó, họ đã làm việc vô cùng cực nhọc!
Ở nhật báo "Tự do Nhân dân" thời ấy, ai cũng biết rằng, làm phóng viên tại Hà Nội là một nhiệm vụ rất khó nhọc. Chiến tranh vẫn còn (với Campuchia, hay xung đột biên giới với Trung Quốc), cho dù nước này vừa mới kết thúc xung đột với Hoa Kỳ – cuộc chiến mà Washington đã bị đánh bại, dù đã đưa hơn nửa triệu quân nhân vào miền Nam Việt Nam. Gần 60.000 lính Mỹ thiệt mạng, trong khi thiệt hại về phía Việt Nam là nhiều triệu người, cả quân đội lẫn thường dân, đã ra đi.
Quân đội Mỹ đã rải các hóa chất gây ung thư (dioxin – chất độc da cam) từ máy bay nhằm hủy diệt thảm thực vật và lá cây trong rừng rậm miền Nam Việt Nam, để theo dõi hoạt động quân sự của lực lượng nổi dậy miền Nam và quân đội Bắc Việt hỗ trợ họ.
Nói thêm về tờ báo nơi tôi làm. Những người làm việc tại báo "Tự do Nhân dân" lúc đó chia thành hai "giai tầng" khác biệt rõ rệt. Ở thượng tầng, lãnh đạo các chuyên mục, hoặc trong các cương vị cao hơn là những "yếu nhân" đáng tin cậy và thích hợp về mặt chính trị. Tổng biên tập báo "Tự do Nhân dân" luôn là thành viên của Bộ Chính trị, cơ quan cao nhất trong Đảng Cộng sản. Trong khi đó, ở cấp dưới cùng, có rất nhiều người trẻ, tốt nghiệp đại học và thông thạo ngoại ngữ trong số những nhân viên trực tiếp viết và làm báo (gọi là "culi").
Sau những năm công tác tại Hà Nội, tôi trở lại "Tự do Nhân dân" vào năm 1984 và chưa đầy hai năm sau, tôi được bổ nhiệm làm phóng viên thường trú tại Moscow. Trong thực tế, tôi đã chứng kiến toàn bộ thời kỳ Gorbachev, bao gồm cải tổ (perestroika), công khai hóa (glasnost) và sự sụp đổ của Liên Xô, ngay tại Moscow.
Những năm tháng ở Việt Nam
Ở Hà Nội, so với người dân địa phương, tôi có một cuộc sống rất đầy đủ. Tôi sống trong một căn hộ hai phòng tại Khách sạn Thống Nhất (một tòa nhà được xây từ thời Pháp thuộc, nay đã bị phá dỡ), và văn phòng làm việc nằm ngay ở tầng dưới.
Tôi được tòa báo tại Budapest cấp xe hơi phục vụ công tác, và tôi làm việc cùng ông Trần Đình Kiêm (**), người đã giúp tôi rất nhiều với vai trò phiên dịch và trợ lý cá nhân, góp phần quan trọng vào sự thành công của nhiệm vụ này. Tôi viết bài và gửi tin về "Tự do Nhân dân" bằng những chiếc máy điện báo quân sự cũ của Mỹ, trong tiếng ồn của những chiếc máy điều hòa Mỹ cũ kỹ nhưng vẫn hoạt động.
Tôi đã đi rất nhiều nơi trên khắp đất nước Việt Nam. Vào thời điểm đó, vùng nông thôn và công cuộc tái thiết là những điều hấp dẫn nhất đối với tôi. Các cuộc cải cách toàn diện và chính sách kinh tế mới vẫn chưa bắt đầu, thời kỳ Đổi Mới vẫn chưa đến. Tuy nhiên, đã có thể cảm nhận rõ ràng rằng người nông dân – vốn dĩ làm việc rất vất vả quá sức người – đang dần được khuyến khích canh tác trên phần đất sản xuất của riêng mình.
Một phần quan trọng trong hoạt động phóng viên của tôi ở Hà Nội là tôi đã có nhiều chuyến tác nghiệp đến khu vực biên giới Trung – Việt, nơi mà vào đầu những năm 1980 vẫn còn xảy ra các đụng độ vũ trang lớn nhỏ. Tại cửa khẩu Hữu Nghị khi đó hầu như bị gài mìn khắp nơi, hay trên con đường quốc lộ nối liền hai nước xuyên qua rừng rậm, mặt đường vẫn bị cày xới bởi đạn cối, những cuộc trao đổi tù binh vẫn còn diễn ra.
Quay trở lại sự kiện đón chào Tết Nguyên Đán 2025 tại Lurdy Ház, tôi rất ấn tượng khi Ban tổ chức đã tạo ra một chương trình gắn kết mọi thế hệ, từ trẻ em tiểu học đến sự vinh danh và tặng quà các cụ cao tuổi trên 80 – chương trình được chuẩn bị chu đáo và thực hiện thành công, quy tụ tới bốn thế hệ cùng tham gia. Đồng thời, các thông điệp chính trị và những vấn đề thời sự cũng không bị lãng quên.
Nhóm nghệ sĩ hát múa, đóng vai trò chủ đạo trong chương trình, gồm các nữ diễn viên hóa thân thành lính hải quân, biểu diễn tiết mục ca – vũ tưởng nhớ cuộc chiến gian khổ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông (Đông Hải, hay còn gọi là Biển Nam Trung Hoa theo cách gọi của Trung Quốc), nhằm tri ân những người lính hải quân đã hy sinh những năm gần đây, và những dải ruy băng đỏ tượng trưng cho sự hy sinh cao cả của họ (***).
Những cuộc chiến đầy cam go
Những hy sinh đó không vô nghĩa. Ngày nay, Việt Nam là một trong quốc gia lớn mạnh trong khu vực, với hơn 100 triệu dân và một trong những lực lượng quân đội hùng mạnh nhất thế giới. Và những thành tựu của Việt Nam càng trở nên ấn tượng hơn nếu xét đến bối cảnh lịch sử hiện đại của đất nước – một thời kỳ kéo dài từ Đệ nhị Thế chiến, nhưng gần như liên tục chìm trong chiến tranh.
Những người Việt Nam yêu nước đã phải chiến đấu chống lại phat-xít Nhật, sau đó là thực dân Pháp. Đất nước bị chia cắt, và miền Nam nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền do Mỹ, Úc, Canada và Hàn Quốc hậu thuẫn. Chỉ sau khi đánh bại Mỹ vào năm 1975, Việt Nam mới có thể thống nhất hoàn toàn.
Quân đội Việt Nam sau đó vẫn phải tiếp tục chiến đấu chống lại chế độ diệt chủng Pol Pot ở Campuchia và sau đó là cuộc chiến chống lại Trung Quốc năm 1979, khi Bắc Kinh phát động một cuộc tấn công trả đũa. Thậm chí, vào đầu những năm 1980, khi tôi đang làm phóng viên tại Việt Nam, nhiều cây cầu quan trọng trên tuyến đường quốc lộ huyết mạch số 1 từ Hà Nội đến TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa được khôi phục sau các trận ném bom của không quân Mỹ.
Chiếc xe Zhiguli 1200 do báo "Tự do Nhân dân" cấp cho tôi nhiều lần phải được đưa lên thùng xe tải để vượt qua những con sông sâu từ 1,5 đến 2 mét, cắt ngang tuyến đường quốc lộ này. Tôi đã đi rất nhiều nơi trên khắp Việt Nam, và những trải nghiệm ấy – cùng với nhiều kỷ niệm khác – đã được tôi ghi lại trong cuốn sách "Một trăm nghìn cây số ở Việt Nam" (Százezer kilométer Vietnámban), xuất bản năm 1985.
Việt Nam từng là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, liên tục phải chịu đựng các cuộc tấn công từ bên ngoài, vậy mà vẫn có thể đứng dậy mạnh mẽ. Ngày nay, nếu quay lại Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, có lẽ tôi sẽ không thể nhận ra những con phố, trung tâm thương mại của hai thành phố này. Điều khiến tôi ấn tượng sâu sắc nhất chính là sự linh hoạt và tài ngoại giao khéo léo của người Việt Nam.
Việt Nam luôn cố gắng duy trì quan hệ cân bằng giữa Phương Đông và Phương Tây, tìm kiếm những điểm liên kết và các mối quan hệ đối tác. Với Hoa Kỳ – kẻ thù cũ trong quá khứ, Việt Nam hiện nay đã thiết lập các hiệp định kinh tế toàn diện, và Mỹ trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Tương tự, Bắc Kinh cũng là một đối tác quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hà Nội.
Phát triển ấn tượng
Ngày nay, các chỉ số kinh tế vĩ mô của Việt Nam rất ấn tượng. Theo trang vietnam-briefing.com, bất chấp những thiệt hại do bão Yagi gây ra, nền kinh tế Việt Nam trong năm ngoái vẫn tăng trưởng trên 7% – một trong những mức tăng cao nhất thế giới. Tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP năm qua đạt 37,6%, trong khi lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất, đóng góp 42,4% vào GDP.
GDP bình quân đầu người (tính theo giá trị thực) năm ngoái đã tăng rất đáng kể, thêm 377 USD và đạt mức 4.700 USD/ người. Lạm phát năm 2024 được kiểm soát ở mức 3,6%. Hoạt động xuất nhập khẩu – động lực chính của nền kinh tế Việt Nam – tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 786,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước. Nhờ mức tăng trưởng ấn tượng này, Việt Nam đã vượt qua hầu hết các đối thủ trong khu vực, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia.
Xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), chiếm 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong lĩnh vực nông nghiệp, xuất khẩu gạo đạt 9 triệu tấn, trị giá 5,8 tỷ USD, trong khi xuất khẩu cà phê mang về 5,5 tỷ USD. Ngoài ra, xuất khẩu rau quả cũng đạt thành tích ấn tượng, với doanh thu lên tới 7,2 tỷ USD trong năm qua.
Năm ngoái, Singapore là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, chiếm khoảng 27% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc cũng đóng góp một lượng vốn đáng kể, chiếm 18,5%. Các nhà đầu tư tiếp theo lần lượt là Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản. Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Kinh tế CEBR (Anh Quốc), trong 5 năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, gần 6% mỗi năm.
Hiện nay, các doanh nghiệp Nhật Bản, Trung Quốc, Pháp, Ý và Đức đều đang có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam. Ngành công nghiệp xe hơi, dù chỉ mới bắt đầu từ giữa thập niên 1990, hiện tại vẫn chủ yếu là lắp ráp. Tuy nhiên, không còn xa nữa, chúng ta sẽ thấy những thương hiệu ô tô "Made in Vietnam" thay thế các hãng như Toyota, Mitsubishi, giống như cách mà Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc đã làm.
Và tôi tin chắc rằng trong tương lai, chúng ta sẽ được chứng kiến nhiều sản phẩm và phương tiện chất lượng ngày càng cao đến từ Việt Nam, từ những bạn hữu tuy xa về địa lý nhưng lại rất gần gũi về tinh thần với Hungary!
Dunai Péter, Budapest 30/1/2025.
Ghi chú (của người dịch):
(*) "A háború szomorúsága" (Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh) và "Az erdők anyja" (Mẫu thượng ngàn, Nguyễn Xuân Khánh), NXB AB ART, Budapest.
(**) Cựu DHS, cựu cán bộ ngoại giao, CTV nhật báo "Tự do Nhân dân", tác giả của nhiều giáo trình tiếng Hung, trong đó công phu và giá trị nhất là các bộ tự điển Hung – Việt, Việt Hung.
(***) Hoạt cảnh ca múa "Tổ quốc gọi tên mình" của CLB Nghệ thuật Sen Việt.
